hế là kể từ tháng bảy năm nay trong cuộc sắp xếp lại giang sơn như cách chúng ta thường gọi, hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị được về chung một nhà. Khi quyết định sáp nhập được chính thức công bố lòng tôi rưng rưng, nao nao như đang trở lại ngõ làng thấp thoáng những vệt nắng sớm trong cái buổi lên đường nhập ngũ. Không lâu nữa, chỉ mấy giờ sau thôi chàng trai tuổi mười tám sinh ở cuối dòng Linh Giang sẽ khoác lên mình bộ quân phục và chặng đường làm lính phía trước không thể đoán định được ra sao cả. Đất nước đang còn chiến tranh, sự chia cắt non sông vẫn còn đó. Sau sông Gianh, Bến Hải, Thạch Hãn mang nỗi niềm chia ly khi kết thúc 81 ngày đêm trong mùa hè đỏ lửa vô cùng tàn khốc và đầy tang thương mang tên Thành Cổ. Vết thương đó hằn sâu trong ký ức dân tộc từ thuở ấy đến bây giờ. Của một, từ một Quảng Trị hôm qua và của một, cho một Quảng Trị hôm nay. Riêng và chung, đâu dễ nói đủ, nói hết cho tôi, cho em, cho bạn bè, cho đồng đội…
Không thể nói khác được, Thành Cổ đã là chứng tích chung trong tâm thức của Quảng Trị sáp nhập. Cũng vậy thôi, di tích mang nhiều uẩn khúc Hang Tám Cô đâu còn riêng của Quảng Bình nữa. Nỗi đau đã là chung, xin được nói lên đầu tiên, nói lên trước hết để thấu cảm đủ đầy những tương đồng hai quê cũ. Bắt đầu từ đâu ạ? Trong cái bề bộn và có thể chưa ngăn nắp, chưa nề nếp hôm nay tôi lại chọn một lối về từ câu ru của mẹ thời lẩu lâu ấy. Mẹ ru rằng, Quảng Bình là đất Ô châu/ Ai đi đến đó quảy bầu về không. Quê hương với tôi muôn thuở là cát và câu ru của mẹ. Ám ảnh đến mức tôi chẳng bao giờ quên được mẹ và cát. Cát đi mãi chẳng thành đường/ Tôi đi theo lối mẹ thường hát ru.
Mẹ Quảng Bình từng ru tôi ở bên cửa sông Gianh và sau đấy ba năm mẹ Quảng Trị ru em trên nền đất đỏ Vĩnh Linh. Mẹ tôi mất khi tôi mười hai tuổi. Một đêm chiến tranh nhì nhằng ánh chớp bom bi, mẹ ngã xuống khi mới 33 tuổi. Tôi và bốn đứa em của tôi từ ấy mang thân phận mồ côi mẹ. Nỗi buồn chiến tranh đeo bám tôi dằng dặc. Nhưng đó là câu chuyện khác, kể nhiều rồi vẫn chưa hết.
Còn có câu chuyện khác nữa, khi tôi đến với em lại được nghe giọng ạ ơi của một người mẹ Quảng Trị: Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây… Câu ạ ơi, giọng ru, điệu ru lặng lặng, buồn buồn sao giống nhau đến thế Quảng Bình, Quảng Trị ơi! Có lẽ, trong mỗi người mẹ Quảng Bình, Quảng Trị đã mang nét tương đồng hai quê yêu dấu. Mẹ nào cũng là một phần quê hương “cát trắng gió Lào” cả, cũng chang chang nắng, cũng dầm dề mưa, cũng nhiều giông tố bão lũ. Ui chao, nắng chi mà nắng “chác óc chác tai”, mưa chi mà mưa “thúi đất, thúi đai” rứa ôông trời. Nắng mưa hai vùng đất này đều dữ dằn, đều có cái để nói để viết.
Trời đất cũng tương đồng nên con người cùng có nhiều nét tựa nhau như anh em, chị em sinh ra trong một nhà vậy. Cũng nón lá, áo vá quanh năm, chiếc đòn triêng gánh nỗi kẽo kẹt xứ sở đói nghèo, củ sắn củ khoai đều còi cọc một thời. Giống nhau từ cái khổ, cái khó trở đi, nên cũng chả khác nhau chi trong sự chắt chiu dành dụm mà sắn lát khoai deo là một dẫn dụ, mà cá khô mắm thính là thêm một chứng minh. Và rất khó để phân định ai hơn ai trong khí phách nhân sinh “nỏ sợ khó sợ khổ, chỉ sợ nhục”. Chân chất, mộc mạc, thật thà bao nhiêu thì mạnh mẽ, chung thuỷ bấy nhiêu. Khúc cuối chiêm mùa vẫn còn lưu dấu những bâng khuâng mong đợi kiểu Rồi mùa toóc rạ rơm khô/ Bạn về quê bạn biết mô mà tìm... Tôi cứ luôn tin rằng người quê tôi trọng tình, trọng nghĩa. Nên cũng rất dễ nóng giận khi bị gạt lừa, tráo trở. Tính cách ấy thật dễ nhận ra trong con người Quảng Bình, Quảng Trị. Hệ quả, là sống với người Quảng Trị, Quảng Bình vừa dễ, vừa khó. Chạm vào lòng tự trọng của họ rất dễ bị lánh xa, cái kiểu bằng mặt không bằng lòng, e khó!
Chao ôi, một dải đất hẹp nhất nước có chia ra hai tỉnh thì cũng đều dựa lưng vào trùng điệp Trường Sơn để trông ra biển Đông phía trước. Rõ ràng quá khứ và tương lai của dải đất này có biến đổi thăng trầm đến đâu cũng đều không rời tách được hai thực thể thiên nhiên mang tên Trường Sơn và Biển Đông. Ngẩng trông lên vời vợi núi cao bền vững muôn đời cũng là cách hướng về nguồn cội thẳm sâu để dấn bước giữa đường đời vốn có muôn vàn gian nan, bất định. Tôi từng níu vào sông núi quê hương mình để bật ra thi tứ Những cánh đồng van vát miền Trung/ neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển/ như chúng con/ neo vào mẹ/ để còn xứ sở…
Cũng không khó lắm để nhận ra cái giống nhau đến kỳ lạ về sự nắng mưa bão lũ của miền đất Quảng Trị. Thì cũng chẳng ai dám bảo Quảng Trị không sơn thuỷ kim ngọc nhưng thiệt thà mà nói dải đất này gồng gánh nhiều truân chuyên lắm. Từ sinh nhai, lập nghiệp đến đoàn tụ sum vầy, là nơi eo ót nhạy cảm của những toan tính, va chạm đụng độ thời cuộc. Theo chiều dài lịch sử thì cả Quảng Bình, Quảng Trị đều là nơi chồng lấn của những cách biệt về lãnh thổ, cộng đồng, cái hôm qua phải nhường chỗ cho cái hôm nay; cũ mới đan xen kiến tạo nên những đa dạng mới mẻ với quy mô, tầm vóc lịch sử mang tính bước ngoặt. Cả hai vùng đất đều có những con sông được coi là biểu tượng sinh động của sự chia cắt và thống nhất giang sơn. Sông Gianh, dấu tích của hai trăm năm chia cách Đàng Trong - Đàng Ngoài. Sông Bến Hải, trước khi trở thành biểu tượng lộng lẫy của thống nhất Bắc Nam đã có 21 năm làm giới tuyến của hai chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hoà. Còn nhớ, đương nhiên rồi, câu thơ đẹp của thi sĩ Tế Hanh khi đứng bên bờ Bắc sông Bến Hải thời ấy, Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu. Khát vọng hoà bình và thống nhất non sông của dân tộc Việt Nam chẳng một giây vơi cạn.
Cho đến bây giờ, giai điệu da diết và lời ca gợi cảm của bài hát Câu hò bên bờ Hiền Lương vẫn con ngân rung trong trái tim nhiều thế hệ. Bên ven bờ Hiền Lương/ Chiều nay ra đứng trông về/ Mắt đượm tình quê, đôi mắt đượm tình quê/ Xa xa đoàn thuyền nan/ Buồm căng theo gió xuôi dòng/ Bỗng trong sương mờ/ Không gian trầm lắng nghe câu hò/ Hò ơi ơi thuyền ơi/ Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền/ Nhắn ai luôn giữ câu nguyền/ Trong cơn bão tố vững bền lòng son... Cũng như nhiều người Quảng Bình, cha mẹ tôi đã từng hát bài này thời “ngày Bắc đêm Nam”, đến tôi cũng vậy coi đó là ca khúc nằm lòng. Cũng vậy, không ít người Quảng Trị yêu bài Quảng Bình quê ta ơi của nhạc sĩ Hoàng Vân. Khi cất lên câu Nếu ai hỏi vì sao… thì người Quảng Bình hay Quảng Trị đều cảm nhận được phần quê hương của mình trong đó.
Cũng cần phải kể thêm tên một con sông nữa, Thạch Hãn trong vị thế ngăn cách non sông dù thời gian chỉ ba năm trước khi ta hoàn toàn giải phóng miền Nam vào mùa xuân 1975. Quảng Trị có những con sông huyền tích mang trong nó những lớp sóng thời gian xưa cũ thấm thía từng nỗi đau cách biệt và mênh mang khát vọng yêu thương đoàn tụ. Tôi từng gọi và nay vẫn muốn gọi thật nhiều lần Quảng Trị là “miền sông đẹp”. Từ sông Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang đến Bến Hải, Thạch Hãn… đều mang vẻ đẹp huyền thoại của vùng đất này. Các con sông ấy dường như vẫn đang nối nhau rì rầm kể lại những chặng mở cõi gập ghềnh của ông cha ta, bóng xưa vẫn còn soi vào mặt nước phản chiếu ánh nhật nguyệt vân vũ bốn mùa của những thiên kỷ dựng nước gian lao. Từ phên dậu trở thành tuyến đầu của các hành trình mở mang bờ cõi thuận với ý Trời; các thế hệ lần lượt tạo dựng xóm mạc phố phường, đắp bồi nhân tính Việt cho hôm qua, cho hôm nay và cho ngày mai. Quá trình ấy, may mắn thay đã hình thành được sự tương đồng lịch sử Quảng Bình - Quảng Trị như ta đã thấy.
Đây là vùng đất của những hang động kỳ vĩ được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới như Phong Nha, Sơn Đoòng… cũng là vùng đất tâm linh bởi có nhiều di tích chiến tranh và nghĩa trang liệt sĩ nhất. Ở vế sau ấy, nào ai mong muốn đâu chứ. Những Ba Dốc, Trường Sơn, Đường Chín... là những nơi yên nghỉ của hàng nghìn liệt sĩ đã từng chiến đấu, lao động trên con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí Minh hay hai vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị thân thương. Con em hai tỉnh vốn là đồng chí, đồng bào kề vai sát cánh, chia lửa trong chiến tranh. Hạt gạo chia đôi, hạt muối chia đôi nghĩa tình cứ thế đong đầy khôn xiết. Quảng Bình là cửa ngõ chiến trường chống Mỹ, Quảng Trị là nơi đầu cầu chiến tuyến, tuy hai mà một trong những thử thách khốc liệt nhất, nhưng cũng bi tráng nhất. Tôi còn nhớ câu ca dao mình đã thuộc thời thơ bé, Nhà tan cửa nát cũng ừ/ Quyết tâm đánh Mỹ cực chừ sướng sau.
Đến Quảng Trị bây giờ ngoài chiêm ngắm cảnh thiên nhiên đẹp với một cung biển tuyệt vời có những bãi tắm sạch đẹp như Nhật Lệ, Cửa Tùng, Cửa Việt..., những cánh rừng nguyên sinh đan xen hệ thống hang động lừng danh thế giới như Phong Nha - Kẻ Bàng, những con sông huyền ảo trữ tình như sông Gianh, Nhật Lệ, Kiến Giang, Bến Hải, sông Hiếu, Thạch Hãn... Ta có thể đến các địa chỉ thiêng liêng như Hang Tám Cô, các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia như Ba Dốc, Đường Chín, Trường Sơn... Nghe tiếng vọng của quá khứ bi hùng để yêu hơn cuộc sống hoà bình hôm nay.
Khát vọng nhân hoà cũng bay cao từ đó để trong tâm thức người Quảng Trị luôn hướng tới cái đẹp của nhân hậu lắng sâu, không đãi bôi, chẳng ồn ào mấy. Tôi thấy người Quảng Bình, Quảng Trị thường rất cởi mở, thích chan hoà, vẫn ưa chín bỏ làm mười lấy đó làm chuẩn mực trong ứng nhân xử thế. Chính cái tương đồng này mà tôi tin Quảng Bình, Quảng Trị sẽ sống yên lành với nhau trong ngôi nhà chung hôm nay. Không phải bằng lòng với kiểu an phận Râu tôm nấu với ruột bầu/ Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon mà phải dựng xây một cơ đồ đàng hoàng, to đẹp xứng đáng là nơi đáng sống cho dân hai quê cũ.
Có rất nhiều cái giống nhau nữa khi nói tới Quảng Bình, Quảng Trị cũ. Giọng nói, phong tục, ẩm thực là cái rất dễ nhận ra mà nguồn cội khai sinh của nó có lẽ phải tính tới hằng mấy trăm năm rồi. Ừ, có khác gì đâu âm sắc ngôn ngữ và phương ngữ của xứ mô tê răng rứa này. Nghe đâu giọng nói vùng miền phụ thuộc vào khí hậu, thổ nhưỡng của nơi đó. Quảng Bình, Quảng Trị rừng nối rừng, biển nối biển, cùng một miền trời nên cái giống nhau về giọng nói e rằng cũng chẳng có gì lạ lẫm. Họ phải là của nhau, thuộc về nhau như anh em, bè bạn thân thiết, như chồng vợ tào khang Đi mô cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam. Cái ăn, nói cho văn vẻ một chút là văn hoá ẩm thực quả thật cũng tương đồng theo kiểu ăn cay, uống đắng, cũng nổi tiếng với bánh bột lọc, cháo canh, khoai deo, chè vằng, rượu sim, ớt dầm…
Tôi về làm rể Quảng Trị, em trở thành dâu Quảng Bình cũ không phải bổ túc gì hết về phong tục tập quán hay nội trợ bếp núc. Mọi chuyện cứ trôi như ru, cứ thế dập dìu rộn ràng trong ấm ngoài êm, trên dưới thuận hoà. Thương. Thương thế Quảng Bình, Quảng Trị ơi! Bây giờ, hai quê cũ Quảng Bình, Quảng Trị đã là một. Đùa vui một chút thôi, chúng tôi, có lẽ không phải là duy nhất đã sáp nhập từ lâu lâu rồi. Đi bộ đội, đóng quân tại Quảng Trị hơn hai mươi năm, gặp em rồi yêu, rồi nên vợ nên chồng, rồi sinh con đẻ cái chẳng là một thì là gì. Cũng có người Quảng Trị trở thành con rể, con dâu Quảng Bình. Xưa kia hai quê nay là một trong một định danh thân thương mới nhưng chưa bao giờ lạ là Quảng Trị. Đã đến lúc ta không nói sự tương đồng nữa mà đấy chính là phẩm tính vô giá của đất và người Quảng Trị hôm nay.
Cam Lộ, 12 tháng 11 năm 2025
N.H.Q
