Từ thuở lọt lòng, người ta đã học cách “làm nữ” hay “làm nam” như học một vai kịch đời đời truyền lại. Giới là một vai diễn xã hội, nên thơ - dù không cố tình - cũng là một biểu hiện của vai ấy. Cái tôi trữ tình, tưởng là cá nhân, lại mang dấu vết của ngàn năm quy ước. Vậy nên, khi một nhà thơ nữ viết xuống, chị mang theo cả nền văn hóa đi vào trang giấy: những cấm kị, phản kháng và khát vọng của giới. Và chính trong khoảnh khắc chị không cố làm gì cả, giới lại hiện lên đậm nhất, như một bóng hình vô thức giữa vầng sáng của thi ca. Đó là những ý nghĩ khởi lên khi tôi đọc thơ Mai Nhung.
Lăng kính giới nữ trong thơ không do ý thức chọn lựa mà do trải nghiệm giới hình thành qua đời sống thường ngày. Bởi vậy, đọc thơ Mai Nhung, tôi nhận ra nhiều chi tiết đời sống ánh lên một cái nhìn giới nữ sâu sắc, nhạy cảm, riêng tư và chăm chút. Cảm thức về đời sống gia đình với những liên tưởng giàu chất nữ tinh tế, mềm mại, thiên về kết nối: người về phía em/ căn nhà rực nồng màu quế/ em xốn xang như đứa trẻ được phong bao (đêm sương cuối); Không gian cảm xúc gắn với chăm sóc, hồi tưởng, sẻ chia: mâm cơm vun vầy nỗi nhớ/ cay mặn ba trăm sáu mươi lăm nỗi vơi đầy (đêm sương cuối), em vén cánh rèm xanh ô cửa đang mở/ vũ điệu gió tà áo dài đỏ/ từ nơi anh đứng mỗi ngày/ là mặt đời dưới những đám mây (chạm); Thời gian cảm xúc là sự chậm rãi của đời sống nữ giới: em không nghĩ được điều gì/ lặng lẽ giêng hai nhú xanh đồng ruộng/ khoảng trống là những viên gạch/ ngày lát mùa âm ỉ rong rêu (demo mùa xuân). Ở những vần thơ này, các chi tiết nhỏ gắn bó mật thiết với thế giới cảm xúc nữ giới, dù có thể người viết không chủ tâm tô đậm nữ tính. Đó là những trải nghiệm không cần phải gắng “diễn”, bởi chúng đã là da thịt, là đời thường của một bản thể mang giới nữ.
Khi một người nữ viết thơ, họ có thể nghĩ rằng mình đang viết về cảm xúc chung của con người, nhưng thực ra lại đang viết bằng chính trải nghiệm giới của mình - một cách vô thức. Thân thể là “kênh đầu tiên” của cảm xúc và nhận thức. Và thân thể luôn mang dấu ấn giới. Trong thơ Mai Nhung, tôi bắt gặp nhiều bài thơ sử dụng cảm giác cơ thể: “ướt áo”, “rách tươm vạt đồi”, “gội tóc hai màu”, “phấn không lấp nổi quầng thâm”, “mắt mỏi”, “ngực héo”… Đây là kiểu ngôn ngữ thân thể hóa cảm xúc, một đặc trưng nổi bật trong thơ nữ. Thân thể là nơi nỗi buồn, yêu thương, niềm vui, sự tổn thương, tình dục, sự sinh nở, cái chết… in hằn: em sẽ không phủ đầy ngực gầy bằng tóc rối/ như những người đàn bà ngã mình vào bóng tối/ khi say (giấc mơ whisky); có người đàn bà xoã tóc độc mộc/ ngày à ơi í ơi câu hát đợi chờ/ đêm khỏa nước bầu ngực ba mươi tức tưởi (chạng vạng); phía trước ta/ phố phường nước sũng/ con đường chuyển dạ/ vỡ ối/ cội ngàn năm thét tiếng sơ sinh (phía trước ta)… Như vậy, trong thơ Mai Nhung, thân thể là trung tâm cảm xúc cá nhân, nơi phát khởi và ghi dấu rất nhiều trải nghiệm sống của người viết: phiến lá đắng xa xôi con đường vắng/ lốt phố ngã nhào xám trắng đáy sông/ người tìm nude tôi tìm nude/ phía thủy nguyên/ nước mắt nụ cười lõa thể (nude).
Nhà thơ không né tránh mà đối mặt và ghi lại những biến chuyển vi mô của cảm xúc, bắt đầu từ chính thân thể mình: nhốt tiếng thở vỡ bung ngực héo/ lệ thả rông gội tóc hai màu/ phấn không lấp nổi quầng thâm/ son không phủ nổi quãng rạn (phong trần).
Cái tôi trữ tình là “người phát ngôn” cho những khát khao giới tính rõ ràng: đêm cởi nút rỉ thơm cỏ mật/ cựa rừng thiêng hú tiếng vãng lai/ cô gái thân lúa thân măng/ đem giấc gối chăn no lòng hành khất/ đứa trẻ người làng bảo từ bàn chân khổng lồ/ ngậm vú cà gai đỏ hỏn (hồ ký ức).
Đôi khi, cảm giác rã rời thân thể gắn liền với mỏi mệt tinh thần. Cảm xúc và thân thể là một: em dấn dúi đời mình/ vào người đàn ông đã qua bốn mươi mùa cô độc/ nỗi đau chằng chịt tơ giằng/ lồng ngực đường khâu niêm phong chi chít/ em rướn môi cố chạm hơi thở anh nhợt lạnh/ mặc kệ những mũi kim chà xát đồi xanh hoa vừa nhú (sang trang).
Ở đây, thân thể đã tạo nên trường ngữ nghĩa của nữ tính khác với thân thể trong thơ nam: thường bị nhìn từ bên ngoài, mang tính khách thể hóa hoặc lí tưởng hóa. Những trải nghiệm sinh nở, lão hóa, tình dục xuất hiện trong thơ Mai Nhung như là một không gian để hiện diện bản ngã nữ giới. Thân thể, với tư cách là một trung tâm bị lãng quên trong thơ truyền thống đã bị thách thức nghiêm trọng trong thơ nữ Việt Nam từ cuối thế kỉ 20. Khi đó, một số nhà thơ nữ chọn cách phá bỏ sự tiết chế truyền thống, thoát li vai diễn nữ ngoan hiền, để khẳng định cái tôi giới nữ một cách trực diện, thậm chí dữ dội, không che giấu thân thể, cảm xúc, dục tính, tổn thương, cả cơn giận, và khao khát quyền hiện diện. Thơ nữ trải qua giai đoạn “đập bàn, cởi trần chữ” như là một cách khơi mở không gian tự do. Tuy nhiên, giống như hành trình trưởng thành của một con người, thơ nữ cũng đi từ bung phá, đến trầm tĩnh, rồi có khi quay lại nói nhỏ - nhưng lần này, người ta nghe rõ hơn cả tiếng hét ban đầu. Đọc thơ Mai Nhung, tôi cảm nhận được tiếng nói đó, nhỏ nhẹ nhưng không mất đi sắc cạnh giới. Chính nhờ sự trọn vẹn với thân thể và cảm xúc thật, thơ Mai Nhung có được một không gian thẩm mĩ nhạy cảm, bản năng mà rất chân thành.
Ở một khía cạnh khác, trong thơ Mai Nhung, cảm quan tình yêu và tổn thương là ngôn ngữ riêng biệt của giới. Tình yêu trong thơ chị mang cảm quan nữ tính: sâu, lặng, âm bản. Tình yêu là sự dấn thân nội tâm, là một trải nghiệm vừa đẹp vừa đau, gắn liền với sự cho đi, mong đợi, nhớ thương và… vỡ vụn: phố mịt mù trên đôi giày cong/ em nhón chân trần sợ vỡ tiếng chuông nhà thờ lớn/ anh níu kim giây/ mùa chín rồi/ hay mùa chín dối/ em tin và đợi (thu khác); em và anh/ bóng đổ bóng vào đêm chấp chới/ những mùa gạt ý nghĩ/ chiếc va li miệt mài/ kéo dài xa cách (ta đã qua những mùa); em cứ nghĩ về anh thế này mãi được sao/ họ nói bài thơ em là bóng ma/ có tiếng khóc vọng ra sau bức tường đổ/ mộng mị và lẩn khuất (chạng vạng).
Cảm xúc yêu đương gắn chặt với thân thể và sự sống, nhưng cũng là thứ tình yêu luôn gắn liền với nỗi bất an, đau đớn và cả cảm thức mất mát. Đó chính là hình thái thể hiện cảm xúc nữ tính. Tình yêu thường đi kèm với chờ đợi, hi sinh và có thể có mất mát nhưng nhân vật trữ tình không than vãn một cách bi lụy mà chấp nhận như bản chất tự nhiên của việc yêu. Tình yêu như một vùng đất, nơi người nữ bước vào, để rồi mang lấy dấu tích của hạnh phúc cũng như nỗi buồn, những vết xước rất sâu nhưng không gào thét. Một nỗi niềm không được gọi tên, chỉ so sánh với chính nó, tự sinh sôi trong lặng lẽ, là ngôn ngữ điển hình của vui buồn nữ giới: em sợ/ bóng tối xâm thực/ những con đường ngẩn ngơ xám đục/ vầng dương yên ngủ bốn mùa// khi đó/ anh và những câu chuyện/ là bức tranh ký ức không viền/ tượng thánh lặng im đức tín/ và em/ rưng rức giữa lồng ngực anh nóng hổi (ám ảnh).
Có khi, những trạng thái của tình yêu được vật thể hóa để biểu đạt chiều sâu cảm xúc: em tìm anh/ mưa nguồn thác lũ/ tết nước mắt làm cầu/ bện tóc đen làm dây thừng víu núi/ kéo anh về/ gánh gồng cùng nhau (phía núi).
Tóc - một phần của thân thể - mang tính nữ rõ nét, trở thành biểu tượng cho sự gắn kết kì lạ trong tình yêu.
Có thể thấy trong thơ Mai Nhung, tiếng nói tình yêu – tổn thương đã khẳng định cách một nhà thơ nữ biểu đạt cảm xúc, quyền đau khổ, quyền nhớ và quyền nói về nó. Tiếng thơ ấy là không gian thi ca đặc trưng, nơi ngôn ngữ nữ giới không vang lớn mà vang sâu. Nhà thơ chọn cách nói nhỏ nhẹ, nhiều khi thầm thì nhưng găm vào người đọc bằng sự thật của cảm xúc, của trải nghiệm rất con người và rất đàn bà.
Những điều được nhắc đến trên đây không chỉ có trong thơ Mai Nhung. Người đọc có thể nhận ra biểu hiện của cảm quan giới đó trong thơ của rất nhiều nữ thi sĩ. Nhưng ở thơ Mai Nhung, màu sắc giới quen thuộc được biểu đạt bằng một kiểu ngôn ngữ thi ca không dễ có trong giới viết nữ. Đi ngược với mô thức “thơ nữ là kể, tả, giãi bày, dàn trải cảm xúc”, thơ Mai Nhung chặt chẽ, tiết chế, giàu biểu tượng và có tính trừu tượng khá mạnh. Vậy thì, biểu hiện giới còn tồn tại trong ngôn ngữ thơ chị không? Và khác gì với thơ nam? Câu trả lời là: có, biểu hiện giới không biến mất mà ẩn sâu hơn, đòi hỏi độc giả phải nhạy cảm hơn để cảm nhận. Giới bấy giờ nằm trong chuyển động cảm xúc, biểu tượng mềm, và ngữ điệu không áp đặt.
Trong thơ Mai Nhung, trải nghiệm giới được chuyển hóa thành cấu trúc cảm nhận và biểu tượng. Cách liên tưởng, sắp đặt hình ảnh, chuyển động cảm xúc, nhịp nội tâm mang dấu ấn nữ: ấu trứng chữ nở trước mặt trời/ rực rỡ rơi theo thủ quỳ từng cánh (từ đêm). Hình ảnh “ấu trứng” mang theo mã giới: sự sinh nở, thân thể, nội sinh được “giấu” sau lớp ẩn dụ. Đó là một biểu tượng cô đặc của tính nữ trong thơ. Trong bài “ta nối vào ta” có những câu thơ mang mã giới tính: bồ câu chẳng quên nổi mình/ từ nghi lễ thanh tẩy sơ sinh trứng vỡ/ cắm cúi mớm hòa bình/ phồng căng giọt sống. Hoặc những cảm nhận đậm tính nữ: sơ sinh hồng da áo/ lập lòe muôn vẻ đậy che/ lả tả bạc nắm tro/ vạn thọ mà hắc nồng khép kiếp (nude). Thiên nhiên hiện diện trong thơ Mai Nhung: gió rời con đường ngậm sương/ mang giấc mơ lam về phía biển/ nắng đổ luống đồi cỏ/ khép xuân (tháng ba như tiếng chim qua), con sáo vắt mình ngọn lau/ tháng giêng đong đưa tiếng hót/ gió choàng vai/ gót chân thơm tho đồi cỏ/ mũi thông miệt mài/ vá khâu mùa đông lên phố/ vòng xe lấm lem chạng vạng/ em về thong dong (tháng giêng). Hình ảnh thơ gợi cảm, nhẹ nhàng, như một cử chỉ e ấp, kín đáo và duyên dáng đặc trưng của cảm quan nữ tính (con đường ngậm sương, giấc mơ lam, khép xuân, gót chân thơ tho, tháng giêng đong đưa…). Cảm nhận thân thể trong thơ Mai Nhung mềm yếu, nhạy cảm, rút vào trong: bước chân cô đơn/ câm lặng đeo cườm lên cổ cát/ giữa bốn phía mặt trời/ có tìm được nơi cát thu mình ẩm ướt/ một chiếc áo voan mắc ngược/ trên ngọn xương rồng tua tủa kim (lệ cát). Thế giới biểu tượng trong thơ Mai Nhung thuộc trường biểu tượng nữ tính: “ngực gầy”, “tóc rối”, “vết son”, “cỏ mướt sương”, “thân mướt mềm”, “con đò chờ đợi”, “bầu ngực ba mươi”, “gót chân thơm tho”, “mimosa”, “tóc đen”, “cánh rèm xanh”, “tà áo dài đỏ”, “trăng”, “sương”, “ấu trứng”... Tất cả gợi một thế giới mềm, chênh chao, trong suốt, gần như không có trọng lực được tạo nên bởi kiểu nội tâm nữ nhạy cảm, lãng mạn, bị thu hút bởi những dấu hiệu mong manh, mơ hồ của thực tại. Trong bài “từ đêm” có biểu tượng rất đặc biệt: “cô gái mù ngụy trang ngày đàn chim tiếng hót”. Hình ảnh “cô gái mù” là một biểu tượng cho người không thấy, bị động, phải ngụy trang, ẩn mình trong thế giới ánh sáng (“ngày”, “tiếng hót”). Biểu tượng này có thể hiểu là sự ẩn hiện của tiếng nói nữ tính trong thế giới lấn át bởi ánh sáng/trật tự nam tính.
Cảm quan giới trong thơ Mai Nhung còn bật ra từ giọng thơ nội chiếu: một dạng “nói thầm” chứ không “phát biểu”. Đây là kiểu cấu trúc diễn ngôn thường gắn với thơ nữ hoặc thơ mang tính nữ: chiều đã rơi trên những cột đèn/ bãi sông vắng dùng dằng thành phố/ những vết chân xếp hàng/ người bên tôi/ nối nhau im lặng// chúng ta đã cùng nhau từ bao giờ/ còn cùng nhau đến bao giờ nữa/ những cột đèn kề cạnh/ hoà nhau ánh sáng lặng câm (bésame).
Việc một nữ thi sĩ viết chặt chẽ, giàu biểu tượng, tiết chế chính là cách chủ động giành lại không gian diễn ngôn vốn do nam giới thống trị. Có thể nhận ra điều này qua bài thơ: mùa đông đồng trắng xóa/ cánh mỏng manh rướn mình sóng bấc/ run rẩy ướt lạnh xanh lòng// về đây anh/ nói em nghe tiếng trong trẻo khiết thuần/ níu chân em thân mướt mềm vương vít/ em là cô dâu váy trắng nhành hoa/ anh là chú rể áo xanh màu lá/ hai ta bện chặt chẳng rời// đông đi đông tới/ tàn nở/ trắng ngần hóa xanh xao/ tinh khôi thành góa bụa/ nắng xuân kịp về/ khép một mùa hoa (họa mi).
Bài thơ trên không có sự buông lơi cảm xúc bản năng mà rèn giũa từng câu chữ chứng tỏ chủ thể nữ có năng lực kiểm soát ngôn ngữ, điều vốn bị xem nhẹ trong một hệ thống ưu ái giọng văn nam. Những ẩn dụ có tính kiến tạo (hoa/lá, cô dâu/chú rể, họa mi...) diễn đạt kinh nghiệm nữ giới bằng ngôn ngữ riêng, không vay mượn lối tu từ nam tính. Ngôn từ trong bài thơ tiết chế đủ để tạo nên cái lặng lẽ, sâu sắc về nội tâm. Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ: chặt chẽ, tiết chế nhưng hiền hòa, trôi chảy, không bị lí tính hóa. Lối viết ấy thiết lập giọng điệu nữ: không yếu mềm mà là mạnh mẽ trong sự yên tĩnh. Không than thở mà dùng hình ảnh và biểu tượng để diễn tả cảm xúc nữ giới một cách đầy nội lực. Sự tiết chế làm tăng chiều sâu, người nữ không cần nói nhiều, nhưng lời nào cũng sắc. Thay vì đòi hỏi tình yêu, bài thơ cho thấy quyền được yêu trong im lặng kiêu hãnh.
Đọc thơ Mai Nhung, tôi gặp lại một cảm giác rất quen thuộc, rất thích thú khi nhận ra một kiểu viết đậm cảm quan giới. Khi một người nữ làm thơ, họ viết bằng một thân thể, một vai trò xã hội, một lịch sử riêng - tất cả đều mang theo dấu vết giới. Dù người viết không cố tình đưa giới vào thơ, giới vẫn hiện diện, như cái bóng vô hình của văn hóa và trải nghiệm sống vừa phổ quát vừa cá biệt trong thơ.
Đà Lạt, ngày 13 tháng 6 năm 2025
