🔐 Đăng nhập hệ thống
Sự kiện & Đối thoại
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
Media
Giới thiệu
Đời sống văn nghệ

Giếng cổ trên địa bàn Quảng Bình

Lịch sử ra đời và tồn tại của giếng cổ

Sống trên vùng đất hẹp, thời tiết khí hậu khắc nghiệt của của mảnh đất đa phần là đồi núi, đồng bằng hẹp chạy dài theo các triền cát ven sông, ven biển, nhu cầu về nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu phục vụ sản xuất là khát vọng cháy bỏng của bao thế hệ. Cộng đồng dân cư của người Chăm đến các làng xã người Việt khi tiếp quản vùng đất này họ phải luôn tìm cách khai thác nguồn nước ngọt phù hợp với điều kiện địa lý, thủy văn của vùng đất để phục vụ nhu cầu bức thiết đó. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, từ những người Chăm đầu tiên đến các thế hệ người Việt đứng chân trên mảnh đất Quảng Bình, nay là tỉnh Quảng Trị, đã không ngừng chung lưng đấu cật vật lộn với môi trường thiên nhiên khắc nghiệt, không ngừng sáng tạo và liên tục kế thừa những thành tựu văn hóa của nhau trong lĩnh vực khai thác nguồn nước, trong đó nổi bật lên là thành tựu cực kỳ quan trọng của người Chăm Pa. Di sản của sự sáng tạo và kế thừa này đã sản sinh ra một hệ thống giếng cổ với nhiều loại hình, quy mô, kỹ thuật giống và khác nhau cùng tồn tại trong các làng xã của Quảng Bình cho đến ngày nay.

Tuy nhiên, do nhiều tác động của khí hậu thời tiết, của điều kiện tự nhiên, xã hội và nhất là các cuộc chiến tranh Đại Việt - Chiêm Thành, Trịnh - Nguyễn rồi chống Pháp, chống Mỹ, mảnh đất này chịu bao khói lửa đạn bom, cùng chịu chung số phận của các công trình trên mặt đất thì hệ thống giếng cổ ở đây đa phần đều không nguyên vẹn như những gì vốn có của nó. Mặt khác, hệ thống giếng cổ là những công trình mang tính dân dụng, thực tiễn và luôn gắn bó với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư nên để phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội, nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu con người, một số giếng được cải tạo, được tu bổ, tôn tạo từng phần làm cho chúng có sự thay đổi về vật liệu, về quy mô, về cấu trúc, diện mạo, một số giếng khác do không còn sử dụng nên đã bị hoang phế. Mặc dù vậy, hiện nay trên địa bàn vẫn còn một số lượng lớn các công trình giếng cổ giữ được nguyên trạng và đang được phát huy tốt trong đời sống kinh tế, văn hóa, du lịch và tâm linh của cộng đồng dân cư. Bốn giếng Chăm ở Pháp Kệ, xã Quảng Trạch cũng như các giếng Chăm khác ở Hòa Trạch, Phú Trạch... là những di sản còn lại của người Chăm trên đất Quảng Bình được người Việt kế thừa, trùng tu, tôn tạo qua vài lần. Theo cố Giáo sư Trần Quốc Vượng thì người Chăm rất có kinh nghiệm trong việc tìm nguồn nước để đào giếng phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Theo ông Phan Ngọc Sơn, nay gần 80 tuổi, nguyên Phó Giám đốc sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, người sinh ra và lớn lên ở Pháp Kệ, thì giếng cổ Pháp Kệ trước đây bốn phía lát gỗ trai, một loại gỗ chịu ải khá tốt. Đáy giếng cũng gỗ trai, đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, giếng cổ mới được làm lại bằng bê tông, mặt giếng vẫn để hình vuông như thuở ban đầu. Từ năm 1990 về trước, các giếng cổ là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho cả làng Pháp Kệ.

Đặc điểm địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng, sinh thái

Hệ thống giếng cổ là các công trình khai thác nước của người Chăm hoặc của người Việt theo kỹ thuật Chăm ở Quảng Bình rất phong phú và đa dạng tùy theo sự ảnh hưởng của điều kiện địa hình, của địa mạo và sinh thái. Đó là, giếng cổ nếu phân bố ở vùng ven biển, đất cát thì đa phần là đáy giếng xếp gỗ lim, hay gỗ trai, tiếp theo là xếp đá, có thể là đá hộc hay đá liếp, tiếp theo là xây gạch. Các giếng này chủ yếu phân bố ở các làng xã ven biển.

Một số giếng khác phân bố vùng đồi, trung du, ven sông cũng xếp gỗ dưới đáy giếng, tiếp theo là xây đá tổ ong và xây gạch nên nước rất trong. Cũng có một số giếng độc đáo hơn là lòng giếng không xây gạch nằm mà xếp gạch đứng nên lòng giếng rất vững chắc, khó sụt lở như các giếng ở vùng cát ven biển.

Các giếng cổ đều phân bố trong khu dân cư hoặc gần khu dân cư và đều có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có cây đa cây đề, cây cừa, cây dừa... tỏa bóng mát, cạnh trục đường giao thông, đầu làng hoặc trung tâm làng, nơi tụ hội của dân làng mỗi khi đêm về trăng lên, nơi gặp gỡ của bao người mỗi khi đi lấy nước... Hai cây đa giếng Hang ở làng Lệ Kỳ, là nơi hội tụ gặp gỡ người làng, người xã đến lấy nước uống. Nước giếng Hang ngọt nổi tiếng, chỉ có nước giếng Hang pha trà mới ngon, thậm chí uống nước khi mới mới múc từ giếng lên vẫn không đau bụng. Đã có người xa quê lâu ngày về thăm quê, ngang qua giếng thế nào cũng phải uống cho được vài ngụm nước giếng để thấy sự gắn bó máu thịt với làng.

Từ địa hình đất đai và lèn núi mà người dân đã làm giếng cho phù hợp, ngoài loại giếng đào do thăm dò phát hiện mạch nước ngầm (cả người Chăm và Việt), thì loại giếng do mạch ngầm tự phun cũng được người dân sử dụng như giếng Vọt ở Tuyên Hóa, giếng con Cá ở Quảng Ninh, giếng Rục Ba Nương, giếng Bòi thôn Cầu Lợi, xã Minh Hóa, giếng Bôộng ở làng Xuân Lai, xã Trường Phú, giếng Bún, Hòa Trạch... vật liệu mà kiến trúc cũng rất đa dạng và phong phú.

Các loại hình kiến trúc giếng cổ ở Quảng Bình

Khác với giếng cổ các khu vực ở miền Bắc và miền Nam, giếng cổ ở Quảng Bình chủ yếu có các dạng hình cấu trúc cơ bản, đó là giếng vuông, giếng có phần dưới vuông, trên tròn, giếng tròn từ đáy lên cũng có loại thành giếng vuông nhưng lòng giếng lại tròn. Tùy theo quy định của vùng đất, nguồn nước mà giếng cổ có thể là giếng ao, chứa nước trời như giếng Ván, giếng Hồ ở Hiển Lộc, đường kính lên đến 12 và 15 m, tường thành giếng xây bằng đất. Đa phần là giếng có mạch phun, những giếng này của người Chăm để lại và người Việt tiếp tục tu bổ tôn tạo sử dụng.

Về kỹ thuật xây dựng, đặc biệt giếng của người Chăm ở Quảng Bình, điểm nổi bật nhất là phương thức xếp, kè đá, kết cấu của từng loại hình giếng phụ thuộc vào từng loại mạch nước, cụ thể là mạch nước ngầm hay mạch nước phun nổi. Lại nữa, họ đã lợi dụng vào sự chênh lệch độ cao của đất để tạo ra dòng chảy từ giếng xuống ruộng.

Kiến trúc của giếng cổ mang ý nghĩa văn hóa và tín ngưỡng đặc biệt, hình dạng của giếng phong phú, khi thì tròn từ đáy lên, khi thì vuông phần dưới, phần trên thì tròn, khi thì phần dưới tròn phần trên thì vuông, khi thì vuông từ đáy lên... Cấu trúc bao gồm thành giếng, lòng giếng và đáy giếng, đáy có khi có xếp gỗ, có khi không có, lòng giếng là phần chứa nước, thường được xây dựng bằng đá hay gạch, đá thì có nhiều loại khi thì đá tổ ong, khi thì đá hộc, gạch cũng có nhiều loại, gạch đặc hoặc gạch có lỗ, gạch xếp ngang, hoặc xếp đứng... Thành giếng khi thì xây bằng đá, khi thì lại xây bằng gạch, thậm chí bằng đất, kiểu thành đắp đất đa số là giếng ao, chứa nước trời.

Giếng cổ trên đất Quảng Bình ra đời và tồn tại cả ngàn năm. Trước đây giếng cổ là nguồn nước chính của cả cộng đồng và cả du khách bốn phương, ví như giếng cổ ở Quảng Phú, Cảnh Dương, tàu buôn nước ngoài thường ghé lấy nước ngọt trên chặng đường dài trên biển

Giếng cổ gắn chặt với đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng làng xã

Giếng cổ ở Quảng Bình cũng như giếng cổ của người Việt nói chung, giếng là trái tim, là con mắt, là linh hồn của làng xóm. Họ tin rằng, giếng cũng có tâm hồn, có thần, vì vậy giếng cổ nào cũng có ban thờ, hay miếu thờ trang nghiêm bên cạnh. Bốn giếng Chăm ở Pháp Kệ, xã Quảng Trạch đều có miếu và ban thờ. Hằng năm, làng tổ chức vét giếng hai lần (lần thứ nhất vào tháng 5 âm lịch chuẩn bị cho lễ Kỳ Phúc và lần thứ hai vào tháng chạp để lấy nước sạch cúng Tết). Khi vét giếng, thấy bốn mặt chảy đều là tốt, còn nếu hướng nào chảy ít thì các bậc trưởng lão tổ chức một lễ cúng để xin được thông mạch. Mạch khí hanh thông thì con cháu may mắn. Bên cạnh giếng cổ có đàn cô hồn thường gọi là Cô Đàn của xóm. Vì vậy, hàng năm cứ vào ngày 14 tháng giêng âm lịch người dân các xóm đều tiến hành việc tảo mộ cho các mồ vô chủ và làm mâm cỗ đưa về Cô Đàn để cúng tế cho những cô hồn không có người thờ cúng. Đây là mỹ tục đáng quý của cư dân gắn liền với giếng cổ. Thậm chí như giếng Đông ở Bắc Hà, xã Hòa Trạch có hẳn một nhà miếu che giếng cổ, ban thờ quy mô, có nắp đậy giếng, xung quanh giếng cảnh quan, môi trường sạch sẽ. Nước giếng một số làng dùng pha trà cúng hay để thay nước trên ban thờ tổ tiên như giếng cổ Thanh Tĩnh, giếng Sanh, giếng Quan ở Thổ Ngọa, phường Bắc Gianh. Khuôn viên giếng ngày xưa là đám đất nay đã xi măng hóa thành nền giếng làm nơi vui chơi tụ tập thanh niên trong xóm trong xã. Những đêm trăng sáng, thanh niên thi đấu võ, thi vật. Có làng vẫn giữ truyền thống với tục hàng năm trước Tết âm lịch khoảng vài ngày, tập họp dân làng để vét giếng và làm vệ sinh xung quanh giếng đón Tết. Hay như tại Ba Đồn hằng năm đều tổ chức lễ cầu yên long mạch tại giếng Cau. Làng Lệ Kỳ có giếng Lòi Đà, một trong nhiều giếng có nguồn nước trong vắt, Dương Văn An viết trong Ô Châu cận lục đã cho rằng: “Nước Lệ Kỳ trong vắt”. Nhưng cũng vì nước giếng trong vắt, vì mê tín tâm linh, cho rằng mỗi lần vét giếng thì con gái đẹp của làng lại đi lấy chồng xa nên giếng Lòi Đà bị dân làng lấp.

Giếng cổ ngoài cung cấp nước ngọt và mang ý nghĩa văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt trong cộng đồng dân cư vùng miền còn được coi là biểu tượng của sự sống, sự thịnh vượng và cũng là cũng nơi linh thiêng mà ai cũng ngưỡng kính.

Một số nội dung cơ bản của giếng cổ trên địa bàn Quảng Bình

Nước là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt và sản xuất của dân làng, nên từ khi định cư, bất cứ làng nào, ở vào địa hình nào họ cũng đào hoặc kế thừa giếng của người Chăm còn sót lại, thường gọi là giếng cổ của làng. Giếng có cái nước ngọt, có cái không ngọt lắm chỉ dùng tưới tiêu sinh hoạt, tắm rửa mà thôi. Dưới góc độ mạch nguồn thì giếng cổ có các loại sau:

Giếng mạch phun: Đây là những cái giếng mạch chảy mạnh, phun đứng lên khỏi mặt đất, giếng này không nhiều, làng Võ Xá, xã Quảng Ninh có giếng Con Cá. Giếng này nằm ở thôn Thượng, bên cạnh quốc lộ 1A, mạch từ động cát phía đông chảy ngầm đến địa điểm thôn Thượng, nước bung lên khỏi mặt cát, chảy mạnh, trong veo. Ngày trước chảy tự do, thành vũng, thành dòng. Nay, để lấy nước người dân trong vùng xây xung quanh thành hình cái giếng có tường bao và tạo một hình đầu con cá, phun nước từ miệng nên gọi là giếng Con Cá. Nước chảy liên tục từ mạch ngầm, không bao giờ tắt, có lẽ ngày xưa dân vùng cát ở đây đã lợi dụng nguồn nước này để sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Ngoài giếng Con Cá, ở làng Kim Nại, xã Trường Ninh có một mạch nguồn nước từ dãy núi Trường Sơn phía tây làng chảy về, làng cho rằng “đất tam long” (ba con rồng) và đã đào xây ba cái giếng. Hai giếng mạch ngầm và một giếng mạch phun ra khỏi mặt đất có tên giếng Mội (mội có nghĩa là chảy thùng). Những giếng này được kè đá trong lòng, phía trên xây gạch nên rất chắc chắn.

Giếng đất: Trên địa bàn Quảng Bình có một loại giếng đất, là loại giếng không hoặc mạch không rõ ràng, có thể gọi là giếng làng (ao làng hay hồ chứa nước). Giếng này thường có ở những làng hiếm nước ngọt như làng Trần Xá, Chính Cung, Hữu Niên, Diên Trường (xã Quảng Ninh). Đây là những cái giếng có đường kính hàng chục mét, đào sâu xuống lòng đất có tác dụng như hồ chứa nước ngọt. Làng Lương Yến có giếng Ba, đường kính khoảng 15m. Trên bờ giếng có đắp gờ đất nện chặt. Đến mùa hạn, trâu bò không có nước uống thì sử dụng giếng này. Tuy nhiên, giếng đất ở làng Hữu Niên, xã Quảng Ninh thì lại có hình vuông, mỗi cạnh khoảng 20 m. Dân truyền rằng, xưa kia đây là giếng của người Chăm nay còn sót lại. Giếng có thành bao để giữ gìn vệ sinh, vì giếng này dùng lấy nước uống cho người và cả gia súc. Cũng loại giếng này nhưng phải kể đến giếng Đưng ở làng Vạn Xuân (xã Trường Ninh), nắng hạn giếng vẫn không khô, nước trong ngăn ngắt, mát rượi, dân gian truyền tụng, nước giếng mà con gái gội đầu khoảng một tuần thì tóc đen, óng mượt. Tháng 3 năm 2025, khi khảo sát giếng này chúng tôi vẫn gặp người dân lũ lượt đến lấy nước.

Giếng mạch ngầm: Loại giếng mạch ngầm có thể phân làm hai loại, giếng nước ngọt và giếng nước lợ. Đây là giếng phổ biến, mạch nước chảy ngầm nông sâu khác nhau trong lòng đất. Có những làng không có mạch nước ngọt như làng Lương Yến, nhưng có làng Văn La bên cạnh lại có hệ thống giếng nước ngọt cung cấp cho làng, cả vùng vài xã. Đó là hệ thống giếng Hang nổi tiếng và đã đi vào huyền thoại, bảy giếng nay chỉ còn bốn giếng. Nhìn chung loại giếng này thường ngọt ở những làng dân cư cư trú ven đồi, ven cát, không được ngọt ở những làng ven sông, hoặc trước đây là những làng ven sông, hoặc những dòng sông, đầm phá bị lấp

Giá trị của hệ thống giếng cổ trên địa bàn Quảng Bình.

Giá trị kinh tế

Nước cùng với lửa là hai yếu tố cực kỳ quan trọng trong đời sống con người. Giếng nước là một trong những phương thức cung cấp nước chính cho cộng đồng dân cư ở làng xã từ bao đời. Tất cả mọi sinh hoạt đều diễn ra bên giếng. Cái giếng, nước giếng có vai trò như vậy nên từ thuở xa xưa con người đã đào giếng, là cách tốt nhất để có được nguồn nước vừa tiện lợi vừa nhanh chóng. Đây là cách phá bỏ sự phụ thuộc của con người vào ao, hồ, sông, suối. Về phương diện kinh tế, trước khi con người biết đào giếng thì đa phần nước uống hay nước sinh hoạt đều lấy từ sông, hồ, khe suối, điều này sẽ xảy ra các vấn đề sau:

Đó là quá trình lấy nước khó khăn bởi hầu hết nhà của người dân không được xây dựng gần sông, hồ, khe, suối để tránh nguy cơ mưa lũ ngập lụt. Hơn nữa việc lấy nước đưa về nhà mất nhiều thời gian và công sức, ảnh hưởng nhiều đến công việc mưu sinh của từng gia đình. Nếu có một cái giếng gần nhà thì sẽ lấy nước nhanh chóng, tiện lợi.

Một điều khẳng định là nước sông, hồ, khe, suối, chất lượng nước không thể sử dụng trực tiếp làm nước uống, vì nước ở những địa điểm này có số lượng lớn sinh vật sống, chúng có thể làm ô nhiễm nước. Đặc biệt, từ thuở xưa y tế chưa phát triển nên nếu uống nước không sạch rất dễ xảy ra nhiều vấn đề về sức khỏe cộng đồng, liên quan đến sinh mạng con người và tiêu tốn tiền bạc không đáng có của người dân.

Giá trị văn hóa

Bên cạnh các giá trị kinh tế, vật chất, thấy rõ hàng ngày, giếng làng nói chung, giếng cổ nói riêng là không gian sinh hoạt văn hóa chung của làng. Nơi đây các câu chuyện chia sẻ của làng trên xóm dưới, tin buồn của nhà này nhà kia, người này người nọ, được người dân lan truyền qua các hoạt động thường nhật như gánh nước, giặt giũ, hay là gặp nhau tình cờ bên giếng làng dừng chân trò chuyện.

Giếng làng là nơi biết bao nhiêu đôi trai gái làm quen gặp gỡ hẹn hò. Có những đôi trai gái đã nên duyên và trở thành vợ chồng nhờ gặp nhau bên cái giếng. Giếng làng nói chung, giếng cổ nói riêng là “nhân chứng” của biết bao mối tình, lắng nghe những lời yêu thương, những dòng tâm sự nối dài theo năm tháng của làng quê. Cả những đứa trẻ, những chàng trai, cô gái từ thuở còn thơ gắn bó với sự bao bọc của giếng nước. Những buổi trưa hè hay những buổi chiều nóng nực làn nước giếng mát rượi xua đi bao khó nhọc, lũ trẻ cứ thế lớn lên theo thời gian dưới sự nuôi dưỡng của nguồn nước giếng.

Giếng làng truyền tải năng lượng gắn kết lòng người, cố kết cộng đồng và hun đúc lòng yêu quê hương đất nước. Từ giếng nước, từ sự gắn bó thường ngày, người dân làng đoàn kết, tạo nên cộng đồng làng xã gắn bó keo sơn. Tình làng nghĩa xóm càng bền chặt hơn, ai đi đâu về đâu nhưng hình ảnh giếng làng vẫn là nơi cố hương hướng về. Tình làng nghĩa xóm, làng trên xóm dưới gắn kết với nhau cũng từ giếng nước làng. Đã có những lúc làng này cạn nước, nhà kia nước cạn đều phải xin nhau, chia sẻ từng thùng nước, từ đó giành cho nhau tình cảm yêu thương, cưu mang, giúp đỡ nhau. Từ ngọn nguồn cung cấp nước cho đời sống mà giếng nước cứ thế đi sâu lắng đọng vào đời sống tinh thần của mọi người.

Giếng làng, giếng cổ là biểu trưng cho sức sống làng xã Việt Nam nói chung, Quảng Bình nói riêng. Đó là long mạch, là trái tim của làng, là con mắt của đất, là linh hồn của xóm. Giếng nước được xếp hàng quan trọng trong tín ngưỡng tâm linh của mỗi gia đình của người Việt, đó là: bếp, giếng, cổng, cửa. Trong tổng thể cấu trúc tâm linh ở làng quê, nếu cây đa có thần, chùa có Phật, thì giếng nước có thủy thần, có thần mẹ nước. Giếng làng phản ánh đời sống tâm linh của xã hội. Theo quan niệm dân gian, giếng nước tượng trưng cho sức sống của dân làng. Trong không gian kiến trúc làng, giếng làng mang đậm nét của nền văn minh lúa nước. Trong từng thời kỳ, những giếng làng mang hình dạng và ý nghĩa khác nhau, có giếng hình vuông, lại có giếng dạng tròn, có giếng dạng hình bầu dục như tấm gương luôn soi sáng, phản chiếu hình ảnh cuộc sống thanh bình của làng quê. Những giá trị văn hóa tinh thần của giếng làng được đi thẳng vào ca dao dân ca, văn thơ, tục ngữ, huyền thoại, truyền thuyết...

Sự phong phú đa dạng về hình thái giếng cổ (giếng trong làng) còn phản ánh sự sáng tạo và đa dạng văn hóa của cộng đồng dân cư làng xã. Những giá trị tinh thần, giá trị văn hóa của giếng cổ mang lại ý nghĩa to lớn cho sự phát triển của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, hiện nay trước trào lưu công nghiệp hóa, những giá trị đó đang lặng lẽ phai nhạt dần theo thời gian. Ngày nay nhà nào cũng có giếng riêng, giếng khoan, giếng đào, bể chứa nước mưa, lại còn có cả nước máy. Bởi vậy, cả hai giá trị vật chất và văn hóa quan trọng của giếng làng dường như không còn phù hợp với nhu cầu thời đại. Một thực tế ở các làng xã hiện nay giếng không được sử dụng nên bị bỏ bê, bị lãng quên, không được quan tâm, chăm chút, thiếu đi sức sống vốn có của những mạch nước ngầm âm thầm trong lòng đất.

Giếng làng cần được bảo tồn theo đúng vai trò vị trí của nó, chỉ cần một chút chăm sóc quan tâm như giữ gìn sạch sẽ môi trường không gian giếng, tu tạo lại thành giếng và không gian xung quanh, khôi phục những giếng bị bỏ hoang... sẽ thổi được một sức sống mới vào hồn cốt cho di sản giếng cổ. Giữ gìn, bảo vệ giếng cổ không chỉ là giữ gìn nét đẹp văn hóa của mỗi làng quê mà còn góp phần tô điểm thêm bức tranh tươi đẹp của làng quê Quảng Bình, từ làng vùng núi, làng trung du, làng ven sông đến các làng ven biển. Giếng làng nói chung, giếng cổ nói riêng vẫn luôn là những tấm gương soi chứa đựng biết bao ký ức xa xưa và cả trong đời sống hiện nay. Giếng cổ vẫn là công trình mang giá trị văn hóa tâm linh của làng quê, là bản sắc văn hóa của Quảng Bình qua bao thế hệ đang hiện hữu trên mảnh đất nhỏ hẹp duyên hải miền Trung Việt Nam.

BÀI VIẾT Ý NGHĨA? ẤN ĐỂ TƯƠNG TÁC:
0
0
0
0