🔐 Đăng nhập hệ thống
Sự kiện & Đối thoại
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
Media
Giới thiệu
Đời sống văn nghệ

Những người thổi hồn vào nhạc cụ dân tộc ở Quảng Trị

Nhạc cụ truyền thống của đồng bào dân tộc Vân Kiều và Pa Kô ở Quảng Trị khá đa dạng, phong phú, luôn gắn bó với đời sống, sinh hoạt cộng đồng và các lễ hội ở khắp bản làng. Không thể thiếu âm thanh của những nhạc cụ này trong các nghi lễ: Mừng lúa mới, Ariêu Ping, cúng mùa lên rẫy, đập trống, phát rẫy, rước hồn lúa... Trước dòng chảy âm nhạc hiện đại, các nhạc cụ dân tộc truyền thống có nguy cơ bị mai một dần. Ở huyện Hướng Hóa và Đakrông (cũ) của tỉnh Quảng Trị có những nghệ nhân luôn dành thời gian, tâm huyết, truyền lửa để các nhạc cụ dân tộc truyền thống luôn được lưu giữ, bảo tồn và phát triển.

Đời sống của đồng bào dân tộc Vân Kiều và Pa Kô có nhiều lễ hội quan trọng, trong đó các lễ hội chính như: Mừng lúa mới được gọi là Ada Koonh, cải táng là Ariêu Ping, còn hoạt động cúng mùa lên rẫy là Ada hoặc một phần trong lễ Ada Koonh. Những cuộc trên đều là những lễ hội lớn, thể hiện lòng tôn kính tổ tiên, thần linh và tăng cường gắn kết cộng đồng bà con thôn bản, trong đó Ada Koonh là lễ hội nông nghiệp, còn Ariêu Ping là lễ hội tâm linh gắn liền với nghi thức cải táng và xây mộ. 

Đây là hai dân tộc khá đông người ở Quảng Trị, sinh sống chủ yếu ở Hướng Hoá và Đakrông, còn lại ở một số xã của huyện Vĩnh Linh, Gio Linh và Cam Lộ (cũ), là một cộng đồng dân cư bản địa đa sắc màu với các đặc trưng văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng. Từ xưa, bên cạnh các lễ hội, phong tục thờ cúng tổ tiên, người Vân Kiều và Pa Kô còn thờ tín ngưỡng đa thần (thần mặt trời, thần bản mệnh, thần lúa, thần sông, thần cây, thần núi...), cùng với đó là các lễ hội thường xuyên được tổ chức đều đặn theo thời gian và mùa vụ.

Xuất phát từ đời sống, sinh hoạt cộng đồng và lễ hội ở nhiều bản làng nên các nghệ nhân đam mê sưu tầm và chế tác nhạc cụ đã dày công cho ra đời nhiều loại hình phục vụ biểu diễn gồm: sáo trúc, đàn ta lư, đàn toong, đàn a toọc-crung, khèn a-mam, khèn bè, đàn pơ lựa, thanh la, cồng chiêng, trống... bằng nguyên liệu lấy từ rừng như: gỗ, tre, nứa... tạo nên những âm thanh đặc sắc làm say đắm lòng người. Tùy từng sự kiện khác nhau, dân bản sẽ sử dụng loại nhạc cụ phù hợp. Nhạc cụ của người Vân Kiều, Pa Kô tuy được làm từ những vật liệu thô sơ nhưng vẫn được xem là di sản quý báu trong kho tàng văn hóa dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và của đất nước nói chung.

Mỗi loại nhạc cụ đều mang trong mình một sự tích riêng. Chiêng, trống, khèn bè, sáo là những nhạc cụ linh thiêng phổ biến nhất, sáo có nhiều loại và mỗi loại được trình diễn ở những nghi lễ khác nhau. Gắn bó bền chặt nhất với đồng bào là sáo pi, nhạc cụ duy nhất luôn được cất lên khi có sự kiện vui cũng như lúc buồn, mỗi dịp ma chay hoặc khi thực hiện nghi thức thờ cúng tổ tiên và các vị thần... Lúc hát xà nớt, một làn điệu dân ca trĩu nặng tình cảm về quan hệ xã hội, dòng tộc, làng bản thì đồng bào thổi sáo khui. Còn sáo teril được thổi khi hát làn điệu oát, khúc ca hò hẹn của trai gái Vân Kiều.

Ở bản A Xóc, xã Lìa, huyện Hướng Hóa (cũ) có nghệ nhân Hồ Văn Mư và ở xã Tà Rụt, huyện Đakrông (cũ) có nghệ nhân Hồ Văn Việt đều là những người trẻ tuổi rất tâm huyết, có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc. Họ đã dành nhiều thời gian, công sức để sưu tầm, làm đàn ta lư nhằm bảo tồn và gìn giữ nhạc cụ truyền thống của đồng bào mình. 

Đàn ta lư trước đây có hình dáng như một ống tre, theo chiều dài (còn gọi là đàn préh), qua thời gian và quá trình chuyển đổi, hiện nay được cải tiến giống như cây đàn guitar thu nhỏ, không tuân theo quy chuẩn, kích thước nào mà tùy theo độ to, nhỏ của khúc gỗ đặc, nhẹ, để đục đẽo thành thùng đàn. Các loại gỗ để làm đàn là loại có tiếng vang như cây mít, cây mớc, cây lá chân chim, cây hoa sữa hay còn gọi là mò cua… Dây đàn được làm từ sợi dây thường để dệt vải rồi sau này chuyển qua dây thép, dây cước và hiện nay là dây số 1 của đàn guitar (gọi là dây mí). Đàn ta lư có 2 loại chính đó là đàn 3 dây và 4 dây, có âm điệu cũng khá tương đồng nhau, nhưng đàn 4 dây đánh được nhiều giai điệu hơn. Người đánh đàn ta lư là người phải biết thẩm âm để điều chỉnh cho phù hợp với giai điệu, đúng với chất giọng của người hát và làn điệu của bài hát.

Đàn ta lư với những âm thanh, giai điệu mượt mà, là nét đặc sắc trong đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô từ bao đời nay. Đã là trai bản thì phải biết đánh đàn ta lư của dân tộc mình, vì thế nên hầu hết lớp thanh niên đều sử dụng được nhạc cụ đó để đánh lên những làn điệu thân thuộc, gần gũi. Giai điệu của đàn luôn trầm bổng, du dương hòa theo câu hát của chàng trai, cô gái khi tìm bạn tình; tạo nên một điệu nhạc rất khác biệt và dễ đi vào lòng người mọi nơi, mọi lúc. Đàn ta lư có thể kết hợp với nhiều nhạc cụ khác như: khèn bè, sáo, trống, trua, tang le (tarle)... Mỗi dịp lễ, tết, về nhà mới, mừng đám cưới, đàn ta lư lại được cất lên cùng tiếng sáo, khèn, trống, chiêng rộn ràng. Tiếng đàn ta lư rất sinh động phản ánh tâm tư tình cảm của đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô. Nó là sự tích của chàng trai mồ côi khóc mẹ và là nhạc cụ dành riêng cho nam giới. Tuy nhiên, phái nam dân tộc Vân Kiều, Pa Kô không bao giờ đánh đàn ta lư trong dịp ma chay và đám giỗ...

Ở xã Tà Rụt có loại đàn toong khá thịnh hành, các nghệ nhân Cồn Hưm, Mai Hoa Sen và Hồ Văn Việt đã chế tác từ những thanh gỗ quý như chim chim, bai bai được chọn lựa rất kỹ. Người ta dùng 8 thanh, mỗi thanh có chiều dày khoảng 12cm, chiều rộng khoảng 5cm và chiều dài khoảng 80 - 90cm, dùng dây rừng hoặc dây cước buộc nối lại từ trên xuống dưới như đàn t’rưng. Loại đàn này thường được nam giới sử dụng với hai que gỗ để gõ tạo nên âm thanh mộc mạc, thanh tao, trầm bổng. Những vật dụng đơn giản như vậy đã tạo ra loại nhạc cụ có âm thanh độc đáo ở miền núi.

Một loại nhạc cụ tương tự là đàn a toọc-crung làm bằng tre, các thanh cao nằm dưới và các thanh thấp nằm trên, lúc gõ lên như tiếng đàn t’rưng của các đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Người sử dụng đàn phải điêu luyện về kỹ thuật như gõ nhẹ, gõ mạnh, gõ liên tiếp để có được những âm thanh khác nhau. Kết hợp giữa các âm thanh cơ bản và kỹ thuật tạo ra các giai điệu và điệu nhạc sâu lắng.

Về nhạc hơi, có loại khèn bè, các nghệ nhân Kôn Thà ở bản Ala, xã A Ngo, huyện Đakrông (cũ), nay là xã La Lay, được biết đến là người giữ tiếng khèn bè, thanh la, trống acư, sarlai của vùng cao Quảng Trị. Ngoài ra, ông Pả Hơi ở thôn Chênh Vênh, xã Hướng Phùng cũng là một nghệ nhân đa tài, nổi tiếng với việc chế tác nhiều loại nhạc cụ, đặc biệt là khèn bè và các vật dụng đan lát mây, tre truyền thống. Khèn bè được làm từ cây nứa, gồm có một tẩu thổi và 14 ống nứa chập thành 7 đôi, mỗi đôi có độ dài khác nhau và kết lại thành bè theo hình bậc thang. Các nghệ nhân thổ lộ: Ngày còn nhỏ, mỗi lần nghe được tiếng khèn là đã mê say, rồi dần dần in sâu vào tâm trí, phải đòi bố mẹ mua cho bằng được vật mình thích nhất. Sau một thời gian dài sử dụng thì bị hỏng, rồi đã tự mình tháo cây khèn ra, mày mò nghiên cứu, kiên trì sửa chữa nhiều lần, cuối cùng cũng thành công, âm thanh phát ra lại còn hay hơn lúc ban đầu. Từ đó, càng say mê, yêu thích loại nhạc cụ này rồi tự học để thổi khèn. Càng thổi càng thích, chuyển qua làm khèn thì càng thấy đam mê và gắn bó với loại nhạc cụ này từ đó.

Để làm được một chiếc khèn bè, đầu tiên phải lên rừng chọn những cây nứa nhỏ, ít mấu về phơi khô. Khi cây nứa chuyển sang màu vàng, cắt thành từng đoạn kích cỡ 80 - 100 cm. Tiếp đó, dùng mũi khoan để thông các đốt, cách đáy khèn khoảng 20 cm là trục bằng gỗ, dài 10 cm, khoét miệng thổi và 2 rãnh nhỏ hẹp dài 1 cm ngăn đôi giữa 2 bè. Lưỡi sáo của 2 bè hướng vào nhau, thông với miệng khèn, bên ngoài trục thổi được bịt kín bằng chất liệu sáp ong đá. Một trong những công đoạn khó nhất khi làm khèn bè là cách xử lý các lưỡi khèn. Lưỡi khèn có 3 cỡ, phải làm bằng đồng hoặc bạc nguyên chất mới bền, khi có đủ các nguyên liệu, cần 3 đến 4 ngày mới làm ra được một chiếc khèn chất lượng.

Theo phong tục của người Vân Kiều từ xưa, khi những chàng trai đến tuổi trưởng thành và kết hôn, khèn bè là công cụ để thể hiện tài năng, là giai điệu hẹn hò, bắc cầu cho trai, gái tìm được cho mình một người bạn đời thích hợp. Vì thế khèn bè rất được coi trọng và để cho ra đời được cây khèn có âm thanh hay, hình dáng đẹp là điều không dễ dàng.

Một loại khèn khác khá phổ biến của dân tộc Vân Kiều và Pa Kô là khèn a-mam, có vẻ ngoài xem rất đơn giản, chỉ dài chừng 40cm, nhỏ như chiếc đũa, nhạc cụ này cả nam và nữ đều có thể sử dụng, nhưng để có thể chế tác nên một chiếc khèn hoàn chỉnh thì phải có bí quyết gia truyền. Khèn a-mam có thể dùng để độc tấu hoặc cả hai người cùng thổi, thông thường là một nam và một nữ trong khi hát đối đáp, giao duyên.

Đối với đồng bào Vân Kiều và Pa Kô, tiếng cồng chiêng luôn gắn với sinh mệnh con người. Cồng chiêng thường được các nghệ nhân tấu lên trong lễ cúng hồn lúa, lễ Ariêu Ping, lễ buộc chỉ cổ tay hoặc lễ vào nhà mới... Họ không tự làm được loại nhạc cụ này mà chỉ mua hoặc trao đổi từ Tây Nguyên đưa về. Phải có kỹ thuật và trình độ cao mới sản xuất được cồng, chiêng vừa ý, để chế tác một chiếc chiêng hoàn chỉnh phải qua rất nhiều công đoạn. Thường những chiếc chiêng ra đời được các nghệ nhân gò chứ không phải đúc nên rất bền và khó vỡ. Nguyên liệu làm chiêng là sắt tấm, độ dày khoảng 1,5 mm. Trước tiên dùng búa dát mỏng sắt, sau đó phay tròn sắt lại tùy theo kích cỡ loại chiêng rồi gò lên thành hình sản phẩm. Quá trình làm chiêng, công đoạn gò núm chiêng quan trọng nhất, đòi hỏi kỹ thuật cao, tỉ mỉ, kiên trì, gò phải thật đều thì âm thanh phát ra mới trong và vọng.

Ở thôn Pạc Leng, xã Tà Rụt, huyện Đakrông (cũ) có ông Vỗ Bảo, năm nay đã 95 tuổi, quê gốc xã A Vao (nay là xã Tà Rụt). Lúc 15 tuổi ông đã theo bố làm nghề sửa chữa cồng chiêng nên có quá trình kinh nghiệm khá dày dạn, mặc dù tuổi cao nhưng lòng yêu nghề rất nhiệt huyết, suốt ngày cứ cặm cụi làm việc, hết chiếc này qua chiếc khác với bộ đồ nghề rất đơn giản, bản làng nào có cồng, chiêng bị lạc âm hoặc bị rè tiếng là đưa đến ông điều chỉnh lại như lúc ban đầu mà không phải bỏ đi.

Có thể thấy với lòng nhiệt huyết của những nghệ nhân như: Ông Hồ Văn Mư, Hồ Văn Việt, Cồn Hưm, Mai Hoa Sen, Kôn Thà, Pã Hơi, Vỗ Bảo… đã luôn nỗ lực gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị các nhạc cụ truyền thống của dân tộc, để tiếng khèn bè, khèn a-mam, đàn ta lư, đàn toong, đàn a toọc-crung, tiếng trống, cồng, chiêng luôn vang mãi trong đời sống tinh thần của người dân bản. Qua đó, khơi dậy lòng tự hào, tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ bản sắc dân tộc. Nó không chỉ là một sản phẩm của âm nhạc, mà còn là một minh chứng cho sự sáng tạo và tài hoa của người dân tộc thiểu số Quảng Trị, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của người Việt, đặc biệt là văn hóa của người Vân Kiều, Pa Kô.

Tiếng tăm của họ về tài nghệ chế tác và sửa chữa các loại nhạc cụ truyền thống đã vang xa khỏi bản làng bé nhỏ và khắp núi rừng Đakrông, Hướng Hóa. Họ đã dành trọn cuộc đời cho việc sưu tầm, nghiên cứu chế tác để thổi hồn và thắp lên ngọn lửa truyền lại niềm đam mê cho thế hệ sau trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của bản làng. Đó là một việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.

BÀI VIẾT Ý NGHĨA? ẤN ĐỂ TƯƠNG TÁC:
0
0
0
0