Ngay từ những ngày đầu của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, văn hóa được xác định là một trong những nguồn lực tạo nên sức mạnh của nhân dân. Tư tưởng đó được khẳng định rõ ràng trong Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943, văn kiện nền tảng đầu tiên đặt nền móng cho đường lối văn hóa cách mạng. Đề cương đã nêu rõ:“Văn hóa là một trong ba mặt trận cùng với chính trị và kinh tế, phục vụ cho mục tiêu kháng chiến và kiến quốc”.1 Trong suốt những năm chiến tranh, quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa bằng các chủ trương, chính sách lớn Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Văn hóa được xem là vũ khí tinh thần sắc bén, vừa phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ kháng chiến, vừa bồi đắp tinh thần, ý chí, đạo đức và lý tưởng cách mạng cho toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” và “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường văn hóa”.
Đối với Vĩnh Linh, từ sau Hiệp định Genève 1954, trở thành nơi đối đầu quyết liệt giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Việt Nam cộng hòa. Vĩnh Linh đã trở thành mảnh đất địa đầu giới tuyến đã đối đầu trực tiếp với chiến tranh tổng lực của Mỹ không nhờ vào sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, trong đó bao gồm cả sức mạnh trong chiến đấu và nguồn lực tinh thần trong đời sống văn hóa. Chính văn hóa đã trở thành một trong những “vũ khí mềm” sắc bén, hun đúc tinh thần yêu nước, bồi đắp ý chí kiên cường, góp phần tạo nên sức mạnh nội sinh để quân và dân Vĩnh Linh kiên cường bám đất, giữ làng, chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do.
Nền văn hóa Vĩnh Linh mang đặc trưng của văn hóa Việt Nam hiện đại
Để xây dựng nền văn hóa mới làm nền tảng đời sống tinh thần cho nhân dân, chính quyền Đặc khu Vĩnh Linh đã tập trung phát triển các loại hình văn hóa cơ sở, gắn liền với đời sống thường nhật của nhân dân.
Từ năm 1955 - 1964, khi Mỹ chưa tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, tranh thủ điều kiện tạm thời có hòa bình, chính quyền các địa phương đã đẩy mạnh các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao từng bước đời sống tinh thần cho nhân dân như xây dựng và đẩy mạnh hoạt động biểu diễn của các đội văn nghệ quần chúng, tổ chức triển lãm, sinh hoạt câu lạc bộ văn hóa, thành lập các đội điện ảnh chuyên nghiệp đưa phim về phục vụ cho nhân dân tận các làng xã tuyên truyền, vận động nhân dân giữ vững ý chí đấu tranh thống nhất Tổ quốc. Nhờ nòng cốt của các đơn vị hoạt động văn hóa chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sôi nổi và đều khắp. Một số xã thành lập được đội văn nghệ không chuyên phục vụ nhân dân trong các ngày lễ, tết như Đội văn nghệ các xã: Vĩnh Giang, Vĩnh Thuỷ, Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim... Nhiều xã có đội bóng đá, bóng chuyền nam, nữ thi đấu nhiều nơi trong khu vực. Ty Văn hoá tổ chức thành lập Đội tuyên truyền văn nghệ Vĩnh Linh, Đội dân ca Trị Thiên... đồng thời các đoàn văn công Trung ương, Tổng cục Chính trị liên tục thay phiên nhau vào phục vụ mảnh đất giới tuyến. Song song với các loại hình sinh hoạt văn hóa, chính quyền Đặc khu đẩy mạnh hoạt động báo chí tuyên truyền. Khu vực đã thiết lập hai loại hình báo chí là báo viết gồm tờ báo Thống Nhất và tờ tin Bến Hải do Xí nghiệp in Thống nhất (Vĩnh Linh) chịu trách nhiệm in ấn và phát hành. Cùng với hình thức báo viết, hệ thống báo nói thông qua mạng lưới của Đài Truyền thanh Khu vực Vĩnh Linh đã phổ cập tin tức đến với các tầng lớp nhân dân. Thị trấn Hồ Xá, được xem là trung tâm kinh tế, chính trị của khu vực, ngoài hệ thống loa truyền thanh công cộng của Đài truyền thanh Vĩnh Linh, các đường phố đều có tổ đọc tin, tuyên truyền nêu gương người tốt, việc tốt và phê phán nhắc nhở những việc làm, những hiện tượng chưa tốt. Các cổng chào, bảng tin, cụm pa nô mọc lên khắp nơi tạo nên vẻ khang trang của bộ mặt thị trấn và là nơi tuyên truyền phổ biến các chủ trương, chính sách, các nhiệm vụ kinh tế - xã hội do chính quyền các cấp đề ra.2 Kết hợp với lực lượng của cơ quan văn hóa, quần chúng ở cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ trong nhân dân. Nhiều ngành và xã đã xây dựng được phong trào văn nghệ quần chúng. Hoạt động văn hóa, văn nghệ đã phản ánh một cách sinh động khí thế sản xuất, lao động, xây dựng xã hội mới. Đi đôi với việc đẩy mạnh phong trào văn nghệ quần chúng là việc phát triển mạng lưới văn hóa cơ sở, bao gồm hệ thống nhà văn hóa, bảo tàng, thư viện, trạm thông tin, trạm truyền thanh, câu lạc bộ… Công tác đào tạo cán bộ văn hóa được chú ý coi trọng. Từ năm 1961 - 1964, toàn Vĩnh Linh có hàng chục đội bóng đá, bóng chuyền, đội bắn súng, đội bơi lội đạt nhiều thành tích cao trong các giải đấu khu vực và miền Bắc. Phong trào xây dựng thị trấn Hồ Xá đẹp, đường phố đẹp ngày càng phát huy hiệu quả, với tỷ lệ nhà ngói ngày một nhiều, làm cho bộ mặt thị trấn không ngừng khởi sắc.
Công tác giáo dục chính trị tạo môi trường bình yên cho cuộc sống kiến thiết xây dựng nên công tác an ninh - quốc phòng được đặc biệt chú trọng. Các đoàn thể xã hội trên địa bàn huyện từ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, hội phụ nữ đến các hợp tác xã đều quản lý và giáo dục tốt hội viên, xã viên nên môi trường văn hóa xã hội của Vĩnh Linh thật sự lành mạnh. Đường phố, đường làng, ngõ xóm luôn được quét dọn sạch sẽ. Ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường được mọi người quan tâm. Mọi người đều sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
Giai đoạn 1954 - 1964 ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hoá cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ và Vĩnh Linh là một minh chứng điển hình. Những giá trị văn hoá được vun đắp trong giai đoạn này không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần, mà còn là nguồn động lực tinh thần to lớn để nhân dân Vĩnh Linh vượt qua gian khổ, bảo vệ quê hương trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.
Phát triển phong trào văn nghệ quần chúng mạnh mẽ trong điều kiện chiến tranh phá hoại của Mỹ
Trong những năm chiến tranh, Vĩnh Linh không chỉ là tuyến đầu về quân sự, mà còn là tuyến đầu về văn hóa. Giữa bom đạn ác liệt, vùng đất này vẫn kiên cường giữ vững đời sống tinh thần, đạo lý và nhân cách của con người Việt Nam, trở thành một “pháo đài văn hóa” thực sự giữa chiến tuyến đỏ lửa. Cụm từ “pháo đài văn hóa” không chỉ là lời tôn vinh mà còn phản ánh đúng bản chất cuộc sống nơi đây. Khi chiến tranh xảy ra ngày càng ác liệt, Đảng uỷ Vĩnh Linh đã chuyển tất cả mọi hoạt động văn hóa thông tin thời bình sang thời chiến. Khẩu hiệu hành động lúc này là:“Tiếng hát át tiếng bom, tiếng loa hòa tiếng súng”, “Tất cả vì miền Nam ruột thịt”... Đây được xem là những mục tiêu, những giá trị tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt Nam được kế tục và phát huy trên vùng đất tuyến lửa Vĩnh Linh.
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế trong những năm chống chiến tranh phá hoại thực sự là một mặt trận nóng bỏng. Từ năm 1965, phong trào văn hóa quần chúng trên địa bàn Vĩnh Linh tiếp tục phát triển. Ở cấp xã, hợp tác xã có tổ văn nghệ nghiệp dư, hoạt động thích hợp với thời chiến, đã cổ vũ động viên kịp thời cho nhiệm vụ sản xuất, chiến đấu. Công tác điện ảnh đã có nhiều cố gắng, trong năm 1966 đã đưa các bộ phim thời sự, phim truyện về chiếu cho nhân dân xem (386 buổi với 77.532 lượt người xem). Trong bối cảnh bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt, chính quyền đặc khu chủ trương đưa cơ quan phát hành sách thư viện phân tán về cho xã, hợp tác xã, cơ quan, trường học. Các loại sách báo đã phục vụ tốt cho các đợt học tập chính trị và học sinh phổ thông. Hoạt động truyền thanh được củng cố và phát triển, 90% hợp tác xã đồng bằng có hệ thống loa truyền thanh, bình quân 0,4 hộ có 1 loa truyền thanh. Công tác thể dục, thể thao vẫn được duy trì và phát triển, phong trào 4 môn kết hợp chạy, bơi, bắn, võ dân tộc được đẩy mạnh, nhất là trong thanh niên, dân quân tự vệ, học sinh, thể dục buổi sáng được duy trì, qua đó góp phần tăng thêm sức khỏe phục vụ chiến đấu, sản xuất.3
Cùng với nhiệm vụ phục vụ chính trị, công tác văn hóa thông tin động viên tinh thần vui tươi, phấn khởi lạc quan cách mạng trong quần chúng nhân dân. Trong các dịp lễ, Tết Nguyên đán, hầu hết các xã đều có biểu diễn văn nghệ do các tổ, đội văn nghệ của xã, hợp tác xã biểu diễn. Ngoài ra, còn có hai đoàn văn công của Trung ương và đoàn văn nghệ của Ty Văn hóa đi biểu diễn cho các xã. Các đội điện ảnh cũng tích cực hoạt động, riêng trong năm 1967 đã có 474 lần chiếu phim cho các xã, đơn vị với 45.410 lượt người xem.4 Mặc dù sống trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Đảng ủy Khu vực Vĩnh Linh vẫn luôn quan tâm đến đời sống tinh thần cho quân và dân. Những hoạt động về thông tin, văn hóa, văn nghệ luôn được chú trọng. Quần chúng cũng rất tích cực tham gia phong trào văn nghệ. Tiếng hát không chỉ vang lên lúc vui chơi, hội họp, mà cả lúc chiến đấu, sản xuất, đầy gian khổ, khó khăn và hi sinh. Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” thực sự đã đem lại cho quân và dân Vĩnh Linh một cuộc sống đầy lạc quan, tin tưởng.
Với nguồn nhân lực từ phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở và được sự giúp sức đào tạo từ Bộ Tư lệnh Quân khu 4, các đội văn nghệ không ngừng được mở rộng về quy mô, tăng cường nhạc cụ và trở thành những “Đội văn nghệ xung kích” trên mọi mặt trận. Đội gồm các diễn viên, ca sĩ quần chúng là thanh niên, cán bộ, giáo viên, chiến sĩ… được tuyển chọn từ các xã, cơ quan, đơn vị ở Vĩnh Linh. Tuy các đội viên không được đào tạo bài bản nhưng có lòng yêu nghệ thuật, có khả năng biểu diễn và đặc biệt là tinh thần xung kích, dũng cảm, sẵn sàng vượt bom đạn để phục vụ nhân dân. Vượt qua vô vàn khó khăn, thiếu thốn, các diễn viên, nghệ sĩ đã hăng say biểu diễn trên mâm pháo, giao thông hào, sân kho, hầm trú ẩn... với không chỉ niềm đam mê mà còn tình yêu thương và niềm tin chiến thắng. Đến bất cứ địa phương nào, anh chị em trong “Đội văn nghệ xung kích” đều tham gia tìm hiểu tình hình địa phương và đưa các điển hình vào trong chính tác phẩm của mình, được người dân rất yêu thích, phấn khởi. Chương trình biểu diễn thường có: hát đơn ca, tốp ca, hoạt cảnh, tiểu phẩm, thơ ca cách mạng, dân ca cải biên, kịch ngắn… với nội dung cổ vũ tinh thần kháng chiến, ca ngợi quê hương, phản ánh đời sống hầm địa đạo. Họ biểu diễn không sân khấu, không ánh đèn, nhưng được nhân dân gọi bằng cái tên đầy yêu mến: “những nghệ sĩ của lòng dân”.
Trong khói bom lửa đạn, tiếng hát của đội văn nghệ xung kích như liều thuốc tinh thần nâng đỡ ý chí chiến đấu, khơi dậy tình yêu quê hương và lòng căm thù giặc, góp phần biến đau thương thành hành động, giúp nhân dân và chiến sĩ giữ vững tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “mỗi làng xã là pháo đài”. Đội sử dụng nhiều làn điệu dân ca Bình - Trị - Thiên, cải biên thành các ca khúc cách mạng để dễ đi vào lòng người. Bên cạnh đó là những tiểu phẩm dân gian mang tính trào phúng, phê phán địch, cổ vũ sản xuất và đoàn kết. Đội văn nghệ xung kích cũng là cánh tay nối dài của công tác tuyên truyền, chuyển tải đường lối, chủ trương của chính quyền đến với quần chúng bằng hình thức sinh động, dễ tiếp nhận. Nhiều tiết mục được xây dựng theo các chủ đề trọng điểm: “Ba sẵn sàng”,5 “Vững tay cày, chắc tay súng”, “Chiến đấu và chiến thắng”,… Tiêu biểu trong phong trào có Đội văn nghệ xung kích xã Vĩnh Giang. Những bài hát, màn kịch, câu hò, bài thơ... của đội thực sự trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với lực lượng bám trụ địa bàn. Là một trong vài đội văn nghệ cơ sở được Ty văn hóa Vĩnh Linh xếp loại mạnh nên không ít lần được điều lên huyện biểu diễn phục vụ các đồng chí lãnh đạo các cấp, các tỉnh bạn và khách quốc tế vào thăm và làm việc với Vĩnh Linh đều được nhiệt liệt khen ngợi. Đội còn xây dựng một số chương trình biểu diễn giao lưu với các xã bạn và bà con quê hương sơ tán ở Tân Kỳ (Nghệ An) để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong lòng khán giả. Đặc biệt năm 1970, chị Nguyễn Thị Thu Ngoan được cử thay mặt đội tham gia đoàn nghệ thuật quần chúng tuyến lửa Khu 4 đại diện cho phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” ở miền Bắc sang thăm và biểu diễn tại Trung Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, góp phần thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị quốc tế. Nguyễn Thị Thu Ngoan vinh dự được gặp Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai và Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Nhật Thành, được Tổng Tham mưu trưởng quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tặng 1 khẩu súng trường. Cùng thời gian này nghệ sỹ Trần Duyến, nhạc công chơi thành thạo nhiều nhạc cụ dân tộc đã độc tấu một số bản dân ca Bình Trị Thiên được Chủ tịch Kim Nhật Thành rất khen ngợi.6
Đội văn nghệ xung kích Vĩnh Linh là một hình tượng độc đáo và tiêu biểu của văn hóa cách mạng thời chiến. Trong điều kiện chiến tranh khốc liệt, họ đã biến tiếng hát thành vũ khí, mang nghệ thuật đến với hầm sâu, giao thông hào, trận địa... Tiếng hát của họ là tiếng hát của niềm tin, lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc. Đó là một phần không thể thiếu trong bức tranh văn hóa - lịch sử của “tuyến lửa Vĩnh Linh” và mãi là biểu tượng cho tinh thần “chiến đấu bằng cả trái tim và lời ca” của người Việt Nam.
Hình thành không gian văn hóa “làng hầm” địa đạo độc đáo
Từ tháng 7/1966 đến tháng 10/1968, Mỹ dùng đủ các loại vũ khí hiện đại như bom đào, bom chui, pháo chơm, pháo bị, chất độc hóa học đánh phá có tính chất hủy diệt vào địa bàn Khu vực Vĩnh Linh. Toàn bộ địa bàn Vĩnh Linh phải hứng chịu cùng lúc các loại bom đạn từ các khí tài hiện đại của Mỹ như máy bay chiến lược và máy bay chiến thuật, các cỡ pháo từ ngoài biển bắn vào, từ bờ Nam sông Bến Hải bắn ra, suốt ngày đêm trút hàng vạn tấn sắt thép xuống các vùng dân cư trong một địa bàn nhỏ hẹp Vĩnh Linh.7 Lúc này, trước câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại”, vấn đề tổ chức “phòng tránh” là vấn đề có tính chất quyết định, trước hết là để bảo toàn tính mạng cho nhân dân đồng thời đảm bảo cho việc thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ đánh thắng phiêu lưu quân sự của Mỹ. Vì vậy, chính quyền Khu vực Vĩnh Linh đã tập trung mọi khả năng cho việc tổ chức phòng tránh, xem đây là một cuộc vận động chính trị lớn, có tính chất quyết định để thực hiện nhiệm vụ chính trị mà cấp trên giao phó. Uỷ ban hành chính Vĩnh Linh đã phát động phong trào “Quân sự hóa toàn dân”, “Công sự hóa toàn khu vực”, với khẩu hiệu “Nhà che nắng che mưa, hầm che xương che thịt”. Từ đó, những ngôi làng trên mảnh đất Vĩnh Linh được tổ chức theo phương thức “lặn sâu” dần vào lòng đất, tạo nên một mạch sống ngầm ngay dưới lòng đất lửa, đó chính là hệ thống địa đạo. Địa đạo chính là đường hầm lớn nhất và cũng chính là đường làng, mỗi nhánh nhỏ là các tiểu đạo, cũng chính là ngõ dẫn ra đường làng, mỗi ngách chính là một hộ gia đình. Đường hầm chính được thiết kế có hội trường để sinh hoạt, hội họp, biểu diễn văn nghệ, có nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, giếng nước, nhà tắm, kho tàng, trạm gác ở các cửa vào, ra. Toàn bộ sinh hoạt thường ngày và bám trụ chiến đấu của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân được diễn ra trong lòng đất. Hệ thống 70 làng hầm được phân bố khắp 15 xã, thị trấn ở Vĩnh Linh, ngoài chức năng chính là phòng tránh thì tùy đặc điểm từng vùng, từng xã mà có những thay đổi về công dụng của địa đạo; có thể là một làng hoàn chỉnh hoặc chỉ là nơi trú ẩn nhất thời khi bom đạn, nơi làm việc, kho tàng, là trạm trung chuyển hàng hóa, nơi dừng chân của bộ đội... Trong hệ thống làng hầm - địa đạo, với tổng số 114 địa đạo lớn nhỏ khác nhau, đặc biệt có các địa đạo lớn về quy mô và chiều dài, điển hình và tiêu biểu nhất trong hệ thống làng hầm, địa đạo Vĩnh Linh là địa đạo Vịnh Mốc. Tuy nhiên, cuộc sống trong lòng đất dù hệ thống địa đạo được xây dựng tốt đến mấy, cũng không tránh khỏi sự tù túng, thiếu ánh sáng, sức khoẻ bị giảm sút, cho nên phải tổ chức tốt đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân. Chính quyền Vĩnh Linh phát động phong trào và động viên các làng hầm, các hộ, các nhà hầm, đường hầm thi nhau trang hoàng chỗ ở của mình bằng các loại hình văn hóa thích hợp và kịp thời biểu dương những nhà hầm đẹp đẽ, sáng sủa. Sách báo tranh ảnh từ Ty Văn hóa Khu vực đã được các lực lượng xung kích văn hóa vượt qua bom đạn, đưa đến cho nhân dân một cách đầy đủ, thường xuyên. Lời ca, tiếng hát của thanh niên, dân quân ngày đêm cất lên từ các căn hầm đến trận địa trực chiến đã tiếp thêm sức mạnh cho người dân quân tuyến lửa. Giữa những đợt bom B52 rải thảm và ngay khi đạn réo, bom rền, nội dung các chương trình của đài Tiếng nói Việt Nam và đài Truyền thanh khu vực vẫn truyền đi tiếng nói thân thiết, tin yêu của Tổ quốc, của nhân dân cả nước, mang đến cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Vĩnh Linh một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng. Báo “Thống Nhất” cơ quan ngôn luận của Khu vực Vĩnh Linh cũng được chuyển đến tận từng cán bộ chiến sỹ và người dân. Các xã đã xây dựng được tổ đọc tin, tổ sáng tác văn nghệ. Sách báo chuyển xuống sinh hoạt dưới hầm. Hàng chục tờ báo tường, bản tin, khẩu hiệu, tranh ảnh, áp phích được căng dán, trang trí ngay dưới hào giao thông. Hầu như ở hầm nào cũng dành một vị trí trang trọng nhất, để treo ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.8
Hệ thống làng hầm - địa đạo Vĩnh Linh không chỉ là kỳ tích quân sự trong chiến tranh, mà còn là một hiện tượng văn hoá độc đáo, tiêu biểu cho ý chí, nghị lực và tinh thần sáng tạo của văn hóa Việt Nam thời chiến. Những giá trị ấy như một bài học về bản lĩnh và sức mạnh nội sinh của dân tộc trước mọi thử thách.
Trong những năm tháng chiến tranh, mặc dù sống trong điều kiện hết sức thiếu thốn, hiểm nguy, ác liệt nhưng người dân Vĩnh Linh vẫn duy trì các giá trị truyền thống, đạo lý gia đình. Nhiều làn điệu dân ca địa phương được cải biên để phục vụ công tác tuyên truyền, phản ánh sinh động tính kế thừa và đổi mới của văn hóa dân tộc.
Ngày nay, trong xã hội hiện đại, khi các giá trị cá nhân được đề cao, bài học từ văn hoá cộng đồng trong bối cảnh chiến tranh của Vĩnh Linh trở thành một giá trị quý báu, được trao truyền qua các thế hệ. Vĩnh Linh là minh chứng cho việc văn hóa có thể nảy mầm trong khốc liệt, càng gian khổ, càng sáng tạo. Bài học ấy đang được vận dụng để khơi dậy sức sáng tạo trong văn hoá nghệ thuật hiện nay - đặc biệt trong giáo dục, truyền thông và phát triển văn hoá phù hợp với không gian văn hóa, xu thế phát triển đương đại.
Trong những năm 1954 - 1975, Vĩnh Linh không chỉ là biểu tượng của chiến đấu mà còn là biểu tượng của văn hóa sống, văn hóa kháng chiến và văn hóa sáng tạo. Những thành tựu văn hóa nơi tuyến lửa năm xưa đang được kế thừa, phát huy và nhân rộng như một phần của chiến lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc sâu sắc, nhân văn.
_____________________
1 Trường Chinh. Đề cương về văn hóa Việt Nam (1943). In trong Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 7 (1940 - 1945). Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2003. tr. 647.
2 Ban Chấp hành Đảng bộ thị trấn Hồ Xá. Lịch sử Đảng bộ và nhân dân thị trấn Hồ Xá (1955 - 2005). Sở Văn hóa Thông tin Quảng Trị. 2006, tr.38.
3 Ty Văn hoá Thông tin Khu vực Vĩnh Linh. Báo cáo tổng kết công tác văn hoá thông tin năm 1966. Trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh Quảng Trị, Phòng UBHC khu vực Vĩnh Linh, Hộp số 23, Hồ sơ số 11.
4 Ty Văn hoá Thông tin Khu vực Vĩnh Linh. Báo cáo tổng kết công tác văn hoá thông tin năm 1967. Trung tâm lưu trữ lịch sử tỉnh Quảng Trị, Phòng UBHC khu vực Vĩnh Linh, Hộp số 23, Hồ sơ số 12.
5 Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần.
6 Ban Chấp hành xã Vĩnh Giang. Lịch sử Đảng bộ và Nhân dân xã Vĩnh Giang (1930 - 2010). Năm 2010, tr.105
7 Ủy ban điều tra tội ác chiến tranh của đế quốc Mĩ ở Việt Nam (1968). Báo cáo về tội ác của đế quốc Mĩ ở miền Bắc Việt Nam. Trung tâm Lưu trữ Lịch sử tỉnh Quảng Trị, Phòng UBHC khu vực Vĩnh Linh, Hồ sơ số 1180.
8 Thường vụ Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Hệ thống làng hầm địa đạo Vĩnh Linh - một biểu tượng của chiến tranh nhân dân Việt Nam. 2011. tr.34.
